Kho nguyên liệu
Nơi lưu trữ nguyên liệu phục vụ R&D và sản xuất theo phạm vi áp dụng.
Kho không chỉ là nơi cất nguyên liệu, chai hũ hay thành phẩm. Trước khi một vật tư bước vào sản xuất, cần có cơ sở để biết nó là gì, thuộc mã nào, số lô nào, còn hạn hay không, đang ở trạng thái nào và sẽ được cấp cho lô sản xuất nào.
Việc cấp phát cần hướng tới đúng mã, đúng số lô, đúng trạng thái, đúng hạn dùng, đúng số lượng và đúng lệnh sản xuất áp dụng.
Nơi lưu trữ nguyên liệu phục vụ R&D và sản xuất theo phạm vi áp dụng.
Bao bì không chỉ là “chai đẹp”. Trong vận hành, nó là một vật tư cần được nhận diện, kiểm đếm, lưu trữ và cấp đúng dự án / lô.
Thành phẩm sau các công đoạn áp dụng được sắp xếp tại khu vực tương ứng trước kế hoạch bàn giao.
Cùng một vật tư, vị trí khác nhau và trạng thái khác nhau sẽ dẫn đến cách xử lý khác nhau. Vì vậy warehouse map cần giúp nhìn được cả hai lớp đó cùng lúc.
Tiếp nhận không chỉ là đếm số kiện hàng. Vật tư cần được gắn với những dữ liệu đủ rõ để các bước kiểm nhập, bảo quản, cấp phát và truy xuất phía sau còn có cơ sở đối chiếu.
“Hàng về bao nhiêu thùng?”
Hàng gì · mã nào · lô nào · còn hạn không · số lượng bao nhiêu · tình trạng thế nào · đã được nhận diện chưa?
Nên chụp được vật tư, tem nhận diện và thao tác kiểm tra trong cùng một khung hình.
Nguyên liệu hoặc bao bì cụ thể nào đã được tiếp nhận?
Giúp phân biệt các hạng mục trong hệ quản lý.
Một dữ liệu quan trọng để kết nối vật tư thực tế với việc cấp phát và truy xuất sau này.
Được xem khi đánh giá khả năng sử dụng và thứ tự cấp phát phù hợp.
Số nhận thực tế cần có điểm để ghi nhận và đối chiếu.
Quan sát tình trạng bên ngoài và những bất thường có thể nhận biết khi tiếp nhận hoặc trước cấp phát.
Giúp vật tư trên kệ không trở thành những thùng hoặc hũ “nhìn giống nhau nhưng không biết là gì”.
mọi bước phía sau đều khó đối chiếu. Khi vật tư đã được gắn đúng với tên, mã, lô, số lượng, tình trạng và trạng thái nhận diện, các bước kiểm nhập, bảo quản, cấp phát và truy xuất mới có điểm nối rõ ràng.
Nhiệm vụ kho nội bộ MPL bao gồm tồn trữ và bảo quản hàng hóa, kiểm soát nhầm lẫn / hư hỏng / mất mát, vệ sinh kho, kiểm soát côn trùng và theo dõi nhiệt độ – độ ẩm tại các khu vực kho.
Vật tư được sắp xếp theo nhóm và khu vực phù hợp.
Thông tin trạng thái cần đủ rõ để hạn chế việc lấy nhầm vật tư không phù hợp cho bước tiếp theo.
Nhiệt độ và độ ẩm được theo dõi tại các khu vực kho theo hệ thống áp dụng.
Không public một con số nhiệt độ cố định trên website nếu từng nhóm vật tư có yêu cầu khác nhau.
Không gian kho cần được giữ trong tình trạng phù hợp cho hoạt động lưu trữ.
Một kho tốt không chỉ biết “còn bao nhiêu”.
Ưu tiên cùng khung hình có: kệ · vật tư · tem / nhãn và nhiệt ẩm kế nếu phù hợp.
Ảnh nên cho thấy kho đang được tổ chức và theo dõi, không chỉ là kệ chứa hàng đơn thuần.
Cấp phát là điểm mà dữ liệu kho bắt đầu được nối trực tiếp với Lệnh sản xuất, Hồ sơ lô và vật tư thực tế chuẩn bị đưa vào sản xuất.
Nếu phát hiện vấn đề về mã hàng · số lô · HSD · số lượng · tình trạng hàng , cần báo bộ phận liên quan trước khi cấp phát tiếp.
Thứ tự cấp phát cần được xem cùng dữ liệu thực tế của vật tư. Ngày nhập kho là một yếu tố. Hạn dùng cũng là một yếu tố. Vì vậy quyết định lấy lô nào không nên chỉ dựa vào vị trí thuận tay nhất trên kệ.
Xem xét thứ tự vật tư được nhập vào kho khi nguyên tắc này phù hợp với trường hợp áp dụng.
Đưa dữ liệu hạn dùng vào quyết định thứ tự cấp phát, để vật tư có hạn gần hơn được xem xét phù hợp.
Cần có dữ liệu để xem lô nào đang tồn, hạn dùng ra sao, trạng thái như thế nào và lô nào phù hợp hơn để được xem xét cấp phát trước cho kế hoạch sản xuất tương ứng.
Vật tư đi vào kho → phát sinh dữ liệu nhập.
Vật tư được cấp cho sản xuất hoặc xuất theo mục đích áp dụng.
Số lượng còn lại trở thành dữ liệu cần tiếp tục theo dõi theo mã, lô và vị trí lưu kho áp dụng.
Số liệu ghi nhận cần có điểm để so với hàng hóa thực tế.
Sổ/file xuất – nhập – tồn, thẻ kho, phiếu nhập/xuất và vật tư trên kệ không phải những hệ riêng biệt. Chúng cần tạo được một chuỗi thông tin có thể quay lại đối chiếu khi cần.
Một vật tư được cấp cho sản xuất cần tiếp tục giữ được mối liên hệ với lô vật tư, chứng từ cấp phát, lệnh sản xuất và hồ sơ của lô mà nó thực sự được sử dụng.
Trong hệ chứng từ MPL, phiếu xuất kho nguyên liệu là điểm cấp vật tư trước cân / pha chế, còn lệnh sản xuất, số lô và hồ sơ lô tạo điểm nối để biết vật tư đó phục vụ lô nào.
Quản lý kho không kết thúc ở việc “đã xuất hàng”. Giá trị của dữ liệu kho nằm ở khả năng nối vật tư thực tế với quá trình sản xuất phía sau.
Mục tiêu của quản lý kho không chỉ là “có đủ hàng để sản xuất”. Nó còn là tạo cơ sở để vật tư, lô vật tư, chứng từ cấp phát và lô sản xuất có thể được nối lại với nhau khi cần đối chiếu.